Phát triển hydro xanh trong quá trình chuyển đổi năng lượng sạch

Cùng với những giải pháp về phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển nguồn điện có phát thải carbon thấp... Hydro xanh và những dẫn xuất của hydro xanh đang được thế giới quan tâm và kỳ vọng là giải pháp có vị trí ngày càng quan trọng trong lộ trình chuyển dịch năng lượng.

Hydro xanh và những dẫn xuất của hydro xanh đang được thế giới quan tâm và kỳ vọng là giải pháp có vị trí ngày càng quan trọng trong lộ trình chuyển dịch năng lượng do những đặc tính ưu việt về giảm phát thải các khí ô nhiễm và CO2 trong vòng đời sản phẩm, dù là nhiên liệu của quá trình chuyển hóa năng lượng hay là nguyên liệu đầu vào của những ngành sản xuất công nghiệp.

Việt Nam đã cam kết cùng cộng đồng quốc tế nỗ lực cho mục tiêu đảm bảo giữ nhiệt độ trái đất tăng không quá 1,5 độ C tại Hội nghị lần thứ 21 Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu (COP 21) là giảm phát thải ròng carbon của quốc gia về 0 vào năm 2050. Cam kết này được thống nhất trong chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước thông qua nội dung các nghị quyết, luật, chiến lược, quy hoạch và kế hoạch. Cùng với những giải pháp về phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển nguồn điện có phát thải carbon thấp… hydro xanh và những dẫn xuất của hydro xanh đang được thế giới quan tâm và kỳ vọng là giải pháp có vị trí ngày càng quan trọng trong lộ trình chuyển dịch năng lượng.

Thông tin tại Hội thảo tham vấn “Đánh giá tổng thể về sản xuất Hydro xanh từ các nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió và tiềm năng sử dụng ở Việt Nam”, ông Patrick Haverman, Phó Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc tại Việt Nam (UNDP) nhấn mạnh, trong năm 2022, nền kinh tế phát triển nhanh chóng của Việt Nam đạt mức tăng trưởng hơn 8%, là mức tăng trưởng cao nhất từ năm 1997. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp lớn mạnh của Việt Nam, nền kinh tế đang gặp các thách thức về tăng nhu cầu tiêu thụ năng lượng với tốc độ khoảng 10 đến 12% hàng năm nhằm đảm bảo tránh tình trạng thiếu điện cục bộ và tăng cường an ninh năng lượng.

Ngành năng lượng vẫn sẽ là nguồn đóng góp quan trọng với ước tính chiếm khoảng 70% tổng lượng phát thải khí nhà kính của Việt Nam vào năm 2030, với dự báo mức phát thải CO2 là 101 triệu tấn. Do đó, năng lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện những cam kết quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu.

Việt Nam có tiềm năng lớn trong sản xuất hydro xanh từ nguồn năng lượng mặt trời và năng lượng gió. 

Trước đó, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra một loạt cam kết của JETP để giảm 30% lượng phát thải cao nhất hàng năm từ ngành năng lượng, và xây dựng kế hoạch đẩy lùi thời điểm đạt đỉnh phát thải 5 năm, gia tăng tỷ lệ năng lượng tái tạo trong sản xuất điện từ 36% lên ít nhất 47% vào năm 2030, điều chỉnh giảm lượng than đá tối đa và đỉnh phát thải vào năm 2030 thay vì năm 2035. Thực hiện thành công các mục tiêu này sẽ cần sự đóng góp vai trò tuy nhỏ nhưng có ý nghĩa từ năng lượng Hydro (H2) xanh, với tiềm năng sẽ phát triển trong thời gian tới, hướng Việt Nam đến lợi ích lâu dài trong bối cảnh định giá giới hạn, đặt các mục tiêu, xây dựng chiến lược, quy định và cung cấp các ưu đãi dựa trên thị trường để giảm carbon.

Ông Lê Việt Cường, Phó Viện trưởng Viện năng lượng (Bộ Công Thương) cho biết, Việt Nam đã cam kết cùng cộng đồng quốc tế nỗ lực cho mục tiêu giảm phát thải ròng bằng “0” tại COP26, vì vậy năng lượng có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện những cam kết quốc tế của Việt Nam về biến đổi khí hậu. Cùng với những giải pháp về phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, phát triển nguồn điện có phát thải carbon thấp… 

Thời gian qua, UNDP và Viện Năng lượng đã và đang triển khai đề tài nghiên cứu chung tiềm năng sản xuất hydro xanh ở 2 vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Khu vực Tây Nam Bộ, tiềm năng giảm phát thải CO2 khi sử dụng hydro xanh đến năm 2050 cho lĩnh vực năng lượng.  Kết quả nghiên cứu cho thấy, Việt Nam có tiềm năng lớn về năng lượng tái tạo (báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐMT) và điện gió), đặc biệt tại các tỉnh thuộc Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ. Vì vùng Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ có điều kiện thuận lợi về đất đai, nguồn nước và có điều kiện kiện thuận lợi trong việc sản xuất, vận chuyển và sử dụng H2 xanh nhờ thuận lợi về khoảng cách và cơ sở hạ tầng vận chuyển, phân phối, lưu chứa cũng như xuất nhập khẩu H2 xanh.

Do đó, những kịch bản xây dựng sản xuất H2 từ tiềm năng năng lượng tái tạo đến 2050 có thể sản xuất sẽ đáp ứng cao cho một phần nhu cầu H2 xanh cho nền kinh tế; lượng H2 xanh có thể sản xuất đến năm 2030 khoảng 15,04 triệu tấn, năm 2050 khoảng 18,78 triệu tấn. Hơn nữa, năng lượng tái tạo tại vùng Nam Trung Bộ và Tây Nam Bộ rất lớn là cơ sở để sản xuất H2 xanh và cung cấp cho các ngành kinh tế và công nghiệp lân cận.

Để phát triển công nghệ điện phân kết hợp với tiềm năng năng lượng tái tạo tại Việt Nam cần các điều kiện về diện tích đất đủ để phát triển các dự án năng lượng tái tạo và bố trí các máy điện phân, đường ống và thiết bị và kho lưu chứa H2; Nguồn cung nước lớn (9kg/kg H2); Nguồn cung cấp Điện ổn định với giá thành rẻ thường từ nguồn năng lượng tái tạo có hệ thống pin tích năng hoặc điện hạt nhân,… góp phần làm giảm tổng lượng giảm phát thải CO2 đến năm 2030 sẽ giảm khoảng 3,9 triệu tấn, tương ứng với 0,6% so với phát thải cơ sở; đến năm 2050 giảm khoảng 324,4 triệu tấn CO2 tương ứng 26,8% so với phát thải cơ sở.

Đức Hải

Nguồn:Phát triển hydro xanh trong quá trình chuyển đổi năng lượng sạch (thiennhienmoitruong.vn)